Đó là vào dịp cuối năm âm lịch, trước khi bước vào Tết Tân Mão 2010. Mọi việc đã diễn ra hết sức tình cờ, ở thời điểm mà ai cũng bận tít mù vì những công việc nhiều đến ngập đầu. Tuy nhiên, tôi đã không thể từ chối lời mời đi cùng những người anh là cựu chiến binh trở về từ chiến trường Quảng Trị, lúc đó đang công tác tại Bộ Y tế, cùng một số bạn thơ về Bắc Ninh, thăm bác Thản, người thủ trưởng cũ của các anh thời ở Thành Cổ. Trong số các cựu chiến binh Thành Cổ này có bác sĩ Nguyễn Quốc Triệu, lúc đó đang giữ trọng trách Bộ trưởng Bộ Y tế.

Trước đấy, vào mùa hè năm 2009, tôi cũng đã có dịp tới đó và rất thích cái không khí thấm tình đồng đội của những người đã trải qua lửa nước và ống đống của mùa hè năm 1972 ở vùng đất nóng bỏng nhất của chiến tranh thời đó và nay không những vẫn còn khoẻ mạnh mà còn đang làm được rất nhiều việc giúp dân giúp nước. Là kẻ hậu sinh nhưng cũng là một người lính đã từng gần một phần tư thế kỷ trong quân ngũ, cũng được “nếm mùi hun khói” nên tôi rất thích được sống lại cùng các bậc đàn anh trong những giao lưu ký ức và thi ca…
Chiều tháng chạp, chúng tôi đã cùng nhau trẻ lại với những kỷ niệm trong lâng lâng hương rượu đất Kinh Bắc và những giọng ca quan họ ngọt tới nao lòng. Và, là một nhà báo tới tận cùng xương cốt, tôi đã không thể không tận dụng cơ hội được tiếp cận gần với Bộ trưởng Nguyễn Quốc Triệu để xin ông một cái hẹn mà trò chuyện về những công việc ở cái Bộ liên quan mật thiết tới toàn dân này. Và ông đã đồng ý tiếp tôi trong tâm thế của một người không thích nói nhiều nhưng sẵn sàng trải lòng cho những ai đồng cảm được với tất cả những bề bộn công việc và lo toan liên quan tới sức khoẻ của nhân dân.
Nghe ông nói, tôi lại nhớ tới những lần ông trả lời chất vấn trên diễn đàn Quốc hội. Một người hoạt động chính trị lâu năm, nhiều kinh nghiệm nhưng vẫn giữ được trong mình những nét hồn nhiên tới chân thành của một người chiến sĩ, dám và biết cách nói thẳng ra những điều không dễ nói. Và ông đã tâm sự những suy nghĩ của mình trước ngưỡng cửa năm mới: “Đặc điểm của ngành Y tế là tiếp xúc đối tượng phục vụ là con người, và người ở đây lại là người bệnh, mà người bệnh thì nó có đặc thù một là rất nhạy cảm, ví dụ tôi nói nặng với anh có khi chẳng vấn đề gì cả, nhưng nếu tôi nói nặng một tí với bệnh nhân thì, một là có thể có lỗi rồi, hai nữa là đã để lại hậu quả là người bệnh tủi thân hoặc có cái điều gì cảm thấy mình bị hắt hủi rồi. Chưa nói người bệnh thì tính khí cũng khác thường, lắm khi bố mẹ ốm đau con cái chăm sóc mà còn chẳng vừa lòng huống chi rằng… Các cô y tá nhà tôi. Nghề này nó có cái đặc biệt như vậy. Chúng tôi đánh giá đội ngũ cán bộ y tế thường là phải bằng những khảo sát điều tra xã hội học để thấy được định tính và định lượng, để tránh tình trạng chỉ thấy cây mà không thấy rừng. Ví dụ 100 chị y tá mà 95 chị là tốt, tận tụy ngày đêm nhưng còn có 5 chị chưa tốt thì mình phải nói, đấy là chỉ có 5 chị thôi, mặc dù biết là 5 chị này gây ra những cái rất là bức xúc, hay nói cách khác là, con sâu làm rầu nồi canh, con sâu nó bé thế nhưng mà không cẩn thận là phải đổ cả nồi canh. Chúng tôi biết được cái như thế cho nên chúng tôi đã đẩy mạnh việc xây dựng quy chế ứng xử trong bệnh viện; thứ hai là đẩy mạnh cuộc vận động Học tập và làm theo đạo đức Hồ Chí Minh. Quan điểm của chúng tôi là lấy xây để chống, gạn đục khơi trong… Quan điểm của chúng tôi là biểu dương người tốt để người xấu thấy xấu hổ, tôn vinh người giỏi để người kém cảm thấy chạnh lòng vươn lên, sau đó tôi mới xử lý đến những ai yếu kém và tiêu cực… Nói thực, tôi cũng đi trong nước, ngoài nước, thì tôi thấy thế này, thu nhập đối với công sức của trí thức VN nói chung và của cán bộ ngành Y tế nói riêng là thấp. Tôi nói ví dụ, ở Angola trực một tối 400 USD thì thôi mình không theo được, nhưng ở Singapore trực một đêm cũng 70 USD, còn mình ở đây trực một đêm là 35 ngàn là tuyến tỉnh và 45 ngàn ở tuyến huyện, chỉ có 2 USD thôi. Trong khi đó, ở thời kỳ hội nhập thế này thì giá cả giống nhau. Cho nên một mặt cũng nghiêm khắc với anh em, nhưng một mặt cũng thấy rằng có nhiều cái còn bất cập. Ngay tại Hà Nội, tôi vào Bệnh viện Việt Pháp, từ toilet cho đến tất cả hành lang buồng bệnh như là khách sạn, nhưng hỏi ra cũng là người Việt Nam quản lý, hỏi ra hộ lý, y tá cũng người Việt Nam cả, mà tại sao ở đấy nó sạch như thế, nó nề nếp như thế. Đương nhiên tôi không phủ định chuyện giáo dục nhưng rõ ràng là lương nó cao, anh làm lơ mơ là anh mất việc… Nó lại khổ thế. Cho nên phải kết hợp giữa chính trị và kinh tế, giữa cái giáo dục và cái thụ hưởng. Cho nên trước các diễn đàn, tôi rất nghiêm khắc với những người làm chưa tốt, thế nhưng tôi cũng rất cảm thông và chia sẻ với ngành Y tế bởi vì trước khi về làm Bộ trưởng thì tôi làm Chủ tịch thành phố nên tôi cũng đã có một con mắt nhìn tổng thể giữa các ngành. Công bằng mà nói, còn những gì sai sót thì mình cũng phải nghiêm khắc, nhưng nhìn chung, cần phải thấy, công việc của các cán bộ y tế là vất vả…”
Với công việc làm báo của mình, tôi đã có một hạnh ngộ là được biết nhiều người anh từng là bộ đội xuất thân từ sinh viên y khoa đã có mặt tại Thành Cổ Quảng Trị trong mùa hè đỏ lửa năm 1972. Và tôi cũng biết rằng Bộ trưởng Nguyễn Quốc Triệu cũng từng là một chiến sĩ trong đội hình này. Khi tôi hỏi về những ký sâu đậm còn lại trong trí nhớ, ông đã trầm ngâm thổ lộ: “Sâu đậm nhất là, ở cái thời rời ghế sinh viên ra đi, háo hức lắm và thấy cái khó khăn nó nhẹ như lông hồng, vì “cuộc đời đẹp nhất là trận tuyến chống quân thù” cơ mà, nếu có phải hy sinh cho độc lập tự do của Tổ quốc thì cũng là một cái chết đẹp. Lúc bấy giờ chúng tôi có những cái lãng mạn như thế, chúng tôi không nề gian khó nên đã hội nhập rất nhanh khung cảnh đời sống của bộ đội. Và chính đời sống tinh thần khi đó đã đưa chúng tôi vượt Trường Sơn, vượt qua khó khăn. Tôi mà ở lại làm việc tiếp ở Hà Nội thì thể nào tôi cũng sẽ đề nghị phải có một giải thưởng, trước hết là cho những người sáng tác những bài hát hay về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và những bài hát hay về Hà Nội, mà thưởng là ra thưởng đấy… Thơ ca âm nhạc thời ấy đã động viên chúng tôi rất nhiều. Hồi ấy chúng tôi đọc: “Rất đẹp hình anh lúc bóng chiều/ Bóng dài trên đỉnh núi cheo leo/ Núi không đè nổi vai vươn tới/ Lá ngụy trang gieo với núi đèo.” Tức là mô tả hình ảnh bộ đội đẹp lắm, phơi phới lắm… Giờ tôi vẫn nhớ: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi ngôi sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa hoa nở ngát hoa thơm.” Vừa rồi tôi có đi thăm nhà thơ Hữu Loan. Không phải ai cũng tán thành bài “Màu tím hoa sim”, nhưng hành quân xong, đọc bài đó, cảm thấy cái mệt giảm đi một nửa. và lúc vui, đọc bài đó cũng cảm thấy niềm vui tăng lên gấp đôi vì mình cảm thấy như có mình trong đó: “Mẹ ngồi bên mộ con đầy bóng tối/ Chiếc bình hoa ngày cưới thành bình hương…”
Tôi đã hỏi ông: “Quảng Trị đã là một chiến trường cực kỳ khắc nghiệt. Nói một cách nghiêm túc, khi ấy chàng trai trẻ cựu sinh viên Nguyễn Quốc Triệu có cảm thấy sợ không khi đối diện những sự hy sinh mất mát quá to lớn, sát sàn sạt như vậy?” Và ông đã đáp: “Chúng tôi rạn bom đạn đến mức thấy B52 nó rải cách mình 1-2 cây số là lên chui khỏi hầm lên mặt đất xem, nó rải cứ như pháo hoa đấy. Bởi vì, quy luật là nếu B52 nó rải ở trước mặt mình thì ở xung quanh đấy nó không đánh được… Đấy, ngày đó bọn tôi rạn bom đạn đến thế… Thậm chí là cứ nói, đạn phải tránh người, người không tránh được đạn, chả có gì phải lo cả. Trời cho sống thì sống, không có thì hy sinh. Nói thật, nếu có lo là chỉ lo khi đi công tác lẻ, lỡ hy sinh trên đường mà không ai biết thì mẹ mình không nhận được tấm bằng liệt sĩ, người ta sẽ đánh dấu hỏi.. Thực sự, chỉ sợ chết mà không có đồng đội bên cạnh. Không đồng đội biết và không báo được tin về nhà, không báo được lên cấp trên mà trở thành người gọi là mất tích thì rất khó hiểu, để lại cho người sống…” Ông cũng đã nói về những sự ám ảnh từ chiến tranh cho tới hôm nay trong tâm trí ông: “Ám ảnh tôi là những lần mai táng hai thằng bạn, đều cùng là sinh viên, thằng Mão và thằng Ty. Bây giờ đã tìm được hài cốt của Mão rồi, còn của Ty thì chưa… Năm nào tôi cũng hai ba bốn lần về thăm lại Quảng Trị, lắm khi chỉ với 1-2 người bạn thôi… Và năm nào không vào thắp hương là cảm thấy trong người không chịu được…”
Chiều hôm đó tôi đã đọc cho Bộ trưởng Nguyễn Quốc Triệu bài thơ nhỏ mà tôi đã viết tặng những người anh cựu chiến binh Thành Cổ trong một lần vào đó thắp hương: “Cuối cùng Quảng Trị còn ai,/ Ngẩn ngơ hương tự bông nhàI trắng tinh./ Vô tình, trọng cũng là khinh,/ Ôm nhau mà khóc chỉ mình với ta…” Và thấy ông bất chợt trở nên trầm ngâm. Rồi ông nói: “Hay nhỉ, “Vô tình, trọng cũng là khinh”… Hôm nào mình phải đọc cho mọi người ở trên nghe câu này mới được…”
Hồng Thanh Quang
